Giải quyết yêu cầu ly hôn và xử lý vấn đề con cái (Kỳ 1)

Thứ năm, 16/05/2013 10:14

(Xã hội) - Xung quanh vấn đề quyền yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn, hoà giải và căn cứ cho ly hôn mặc dù đã có quy định nhưng vẫn cần sự phân tích kỹ lưỡng để áp dụng.

Nếu người vợ nhận thấy việc duy trì quan hệ hôn nhân chỉ gây đau khổ cho mình, làm ảnh hưởng đến thai nhi hoặc con dưới mười hai tháng tuổi thì người vợ có quyền xin ly hôn hoặc thuận tình ly hôn. (Ảnh minh họa). Nếu người vợ nhận thấy việc duy trì quan hệ hôn nhân chỉ gây đau khổ cho mình, làm ảnh hưởng đến thai nhi hoặc con dưới mười hai tháng tuổi thì người vợ có quyền xin ly hôn hoặc thuận tình ly hôn. (Ảnh minh họa).

Theo quy định tại Điều 85 thì vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Toà án giải quyết việc ly hôn. Tuy nhiên, người chồng không có quyền yêu cầu xin ly hôn khi vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Khi áp dụng quy định này, có ý kiến cho rằng chỉ khi người vợ có thai với người chồng, con dưới 12 tháng tuổi là con chung của hai vợ chồng thì người chồng mới bị hạn chế quyền ly hôn trong khoảng thời gian đó, còn nếu thai nhi hay đứa trẻ dưới 12 tháng tuổi, không phải con của người chồng thì người chồng vẫn có quyền xin ly hôn.

Tác giả cho rằng luật chỉ quy định “vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới mười hai tháng tuổi”, chứ không quy định cái thai đó, đứa trẻ đó phải là con của người chồng.

Mục đích của quy định này là nhằm bảo vệ bà mẹ, đặc biệt là bảo vệ thai nhi và trẻ nhỏ, tránh những tác động xấu đến bà mẹ, làm ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bình thường của thai nhi và trẻ nhỏ. Đây là một quy định rất nhân văn, có tình, có lý. Do đó, khi người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con thuộc một trong các trường hợp này (không phân biệt người vợ có thai với ai hoặc bố của đứa trẻ dưới mười hai tháng tuổi là ai) mà người chồng có yêu cầu xin ly hôn, người vợ không đồng ý ly hôn thì giải quyết như sau:

- Trong trường hợp chưa thụ lý vụ án, Toà án áp dụng điểm d khoản 1 Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung trả lại đơn khởi kiện cho người nộp đơn.

- Trong trường hợp đã thụ lý vụ án, Toà án cần giải thích cho người nộp đơn biết là họ chưa có quyền yêu cầu xin ly hôn. Nếu người nộp đơn rút đơn yêu cầu xin ly hôn, Toà án áp dụng điểm c khoản 1, 2 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự để đình chỉ giải quyết vụ án; trường hợp người nộp đơn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn, Tòa án áp điểm i khoản 1, 2 Điều 192 để đình chỉ giải quyết vụ án.

Quy định ở Điều 85 không hạn chế quyền ly hôn của người vợ. Vì vậy, nếu người vợ nhận thấy việc duy trì quan hệ hôn nhân chỉ gây đau khổ cho mình, làm ảnh hưởng đến thai nhi hoặc con dưới mười hai tháng tuổi thì người vợ có quyền xin ly hôn hoặc thuận tình ly hôn. Trường hợp này Tòa án thụ lý, giải quyết bình thường theo thủ tục chung.

Về hoà giải

Hòa giải ở cơ sở không phải là một thủ tục bắt buộc tiền tố tụng. Theo quy định tại Điều 86 Luật Hôn nhân và gia đình thì Nhà nước chỉ khuyến khích việc hòa giải ở cơ sở khi vợ chồng có yêu cầu ly hôn, chứ không phải là một yêu cầu bắt buộc. Do đó, có Tòa án đã trả lại đơn khởi kiện xin ly hôn với lý do chưa qua hòa giải ở cơ sở là không đúng, vi phạm tố tụng, gây khó khăn cho đương sự.

Tuy nhiên, khi Tòa án đã thụ lý đơn yêu cầu ly hôn, theo quy định tại Điều 88, Toà án tiến hành hoà giải theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Do đó, Toà án phải tiến hành hoà giải theo đúng quy định tại các điều từ Điều 180 đến Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại mục II Nghị quyết số 02/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành các quy định trong phần thứ hai “thủ tục giải quyết các vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự. Về vấn đề này tác giả đã đề cập trong bài “Thời hạn chuẩn bị xét xử và vấn đề hòa giải trong tố tụng dân sự”, sẽ in trong quyển “Bình luận Bộ luật tố tụng dân sự”, nên xin không đề cập trong bài này.

Căn cứ cho ly hôn

Điều 89. Đã quy định về các căn cứ cho ly hôn như sau: “1. Toà án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được thì Toà án quyết định cho ly hôn. 2. Trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 89, Toà án quyết định cho ly hôn nếu xét thấy tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Được coi là tình trạng của vợ chồng trầm trọng khi: Vợ, chồng không thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau như người nào chỉ biết bổn phận người đó, bỏ mặc người vợ hoặc người chồng muốn sống ra sao thì sống, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, hoà giải nhiều lần; Vợ hoặc chồng luôn có hành vi ngược đãi, hành hạ nhau như thường xuyên đánh đập, hoặc có hành vi khác xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm và uy tín của nhau, đã được bà con thân thích của họ hoặc cơ quan tổ chức đoàn thể nhắc nhở, hoà giải nhưng không có kết quả. Vợ chồng không chung thuỷ với nhau như: có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình.

Để có cơ sở nhận định đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được, thì phải căn cứ vào tình trạng hiện tại của vợ chồng đã đến mức trầm trọng như đã nêu trên. Nếu thực tế cho thấy, đã được nhắc nhở, hoà giải nhiều lần nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình hoặc vẫn tiếp tục sống ly thân, bỏ mặc nhau hoặc vẫn tiếp tục có hành vi ngược đãi hành hạ, xúc phạm nhau, thì có căn cứ để nhận định rằng đời sống chung của vợ chồng không thể kéo dài được.

Đối với trường hợp bên bị hành hạ, ngược đãi, đánh đập, xúc phạm… nhiều lần mà xin ly hôn thì cần phải ủng hộ, giải phóng sớm cho họ.

Mục đích của hôn nhân không thể đạt được là không có tình nghĩa vợ chồng; không bình đẳng về nghĩa vụ và quyền giữa vợ, chồng; không tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của vợ, chồng; không tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, của vợ, chồng; không giúp đỡ, tạo điều kiện cho nhau phát triển về mọi mặt; không cùng nhau lo toan cho gia đình, không cùng chung một chí hướng xây dựng, củng cố gia đình hạnh phúc.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 89 thì: “trong trường hợp vợ hoặc chồng của người bị Toà án tuyên bố mất tích xin ly hôn thì Toà án giải quyết cho ly hôn”. Thực tiễn cho thấy có thể xảy ra hai trường hợp như sau:

Người vợ hoặc người chồng có đơn, đồng thời yêu cầu Toà án tuyên bố người chồng hoặc người vợ của mình mất tích và yêu cầu Toà án giải quyết cho ly hôn. Trong trường hợp này, Tòa án giải thích cho đương sự phải có đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tuyên bố một người mất tích. Khi quyết định tuyên bố một người mất tích theo yêu cầu của đương sự có hiệu lực pháp luật thì họ có quyền làm đơn ly hôn và Tòa án thụ lý giải quyết, căn cứ vào khoản 2 Điều 89 để xử cho họ ly hôn; nếu Toà án thấy chưa đủ điều kiện tuyên bố người đó mất tích, Tòa án đã giải thích và hướng dn cho đương sự các cách thức tìm kiếm địa chỉ hiện nay hoặc đưa ra chứng cứ chứng minh về việc bên bị đơn (vợ hoặc chồng) cố tình dấu địa chỉ v.v.. nhưng đương sự không đồng ý, không thực hiện mà vẫn có đơn xin ly hôn với lý do người vợ hoặc người chồng của mình mất tích, trong khi không cung cấp được địa chỉ của họ ở thời điểm nộp đơn xin ly hôn thì Tòa án trả lại đơn khởi kiện (Điều 168 Bộ luật tố tụng dân sự); nếu đã thụ lý thì căn cứ Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ giải quyết vụ án.

Người vợ hoặc người chồng đã bị Toà án tuyên bố mất tích theo yêu cầu của người có quyền, lợi ích liên quan. Sau khi quyết định của Toà án tuyên bố người vợ hoặc người chồng mất tích đã có hiệu lực pháp luật, người chồng hoặc người vợ của người đó có yêu cầu xin ly hôn với người đó. Trong trường hợp này Toà án giải quyết cho ly hôn.

Khi Toà án giải quyết cho ly hôn với người bị tuyên bố mất tích, (nếu người bị tuyên bố mất tích có tài sản riêng hoặc phần tài sản được chia trong khối tài sản chung của vợ chồng) cần chú ý giải quyết việc quản lý tài sản của người bị tuyên bố mất tích theo đúng quy định tại Điều 89 Bộ luật Dân sự. Tài sản của người mất tích được giao cho con đã thành niên hoặc cha mẹ của người mất tích quản lý; nếu không có những người này thì giao cho người thân thích của người mất tích quản lý; nếu không có người thân thích, Toà án chỉ định người khác quản lý tài sản.


Nguồn Thu Hương - Duy Kiên



Bấm vào đây để bình luận
Tên bạn đọc
Email


Mã xác nhận

Clip đang được xem nhiều nhất: Cầu thủ khúc côn cầu đứng trên núi băng và dội nước đá bằng trực thăng

Công ty cổ phần Truyền thông Sự kiện Việt Nam

Liên hệ tòa soạn: banbientap@xahoi.com.vn

Trụ sở: Số 2, Duy Tân, Quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Điện thoại: (04) 37925167, Số máy lẻ: 107

Chịu trách nhiệm nội dung: Nguyễn Trung Dũng

Đường dây nóng: 0973.497.000

Website liên kết

© 2011 Xahoi.com.vn

Giấy phép số 477/GP-TTĐT do Sở Thông Tin và Truyền Thông Hà Nội cấp ngày 10/06/2011.

© Xahoi.com.vn giữ bản quyền nội dung trên website này.